Cảnh sát biển
Lực lượng cảnh sát biển tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo (Ảnh; Tuấn Lê)


Luật Cảnh sát biển Việt Nam được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 6 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019.

Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong thực thi pháp luật trên biển để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Từ thực tiễn đòi hỏi

Biển Việt Nam có diện tích rộng hơn 1.000.000 km2 và hơn 3.000 đảo lớn nhỏ, nằm trọn trong Biển Đông, có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sau khi Việt Nam trở thành thành viên Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển, ngày 28/3/1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Theo đó, Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách Nhà nước thực hiện chức năng quản lý an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm chấp hành pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên trên các vùng biển, thềm lục địa Việt Nam.

Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù vùng biển Việt Nam rộng; hoạt động quản lý nhà nước trên biển đa ngành, đa lĩnh vực cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp với Cảnh sát biển Việt Nam, do đó Cảnh sát biển Việt Nam có vị trí vai trò nòng cốt, trung tâm, có phạm vi hoạt động rộng trên các vùng biển Việt Nam để bảo đảm thực thi pháp luật nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước trên biển.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, Cảnh sát biển Việt Nam cần phải tăng cường hợp tác với các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của quốc gia khác trong đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm trên biển, thực hiện quyền truy đuổi, tiến hành tuần tra chung, diễn tập an ninh hàng hải, chống cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền… Đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế với những quốc gia có lực lượng thực thi pháp luật trên biển mạnh, có kinh nghiệm tổ chức, xây dựng lực lượng, quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

 

Tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo

Luật Cảnh sát biển Việt Nam gồm 8 Chương, 41 Điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, có ý nghĩa chính trị và tầm quan trọng đặc biệt; là nền tảng pháp lý vững chắc, chuyên biệt trong hệ thống pháp luật để Lực lượng Cảnh sát biển xây dựng, phát triển theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; tạo cơ sở nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ Cảnh sát biển, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ biển đảo của Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo Thiếu tướng Trần Văn Nam, Phó Tư lệnh Cảnh sát biển, sau một năm kể từ khi Luật có hiệu lực thi hành, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, chính quyền địa phương, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trên các mặt hoạt động, công tác, thực thi nhiệm vụ.

Trong đó đầu tiên phải nhắc đến công tác sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ), bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Theo đó, toàn Lực lượng đã triển khai thực hiện đầy đủ, toàn diện các quy định của Luật Cảnh sát biển Việt Nam liên quan tới chức năng, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc trên biển được quy định tại  Điều 3, khoản 2 Điều 8.

Cụ thể: Tiếp tục duy trì nghiêm hệ thống trực SSCĐ các cấp theo quy định; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị hiệp đồng, theo dõi, nắm chắc tình hình trên không, trên biển, trên địa bàn liên quan theo quy định (khoản 1 Điều 8, Điều 22, Điều 23, Điều 24); tích cực, chủ động đánh giá, tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong chỉ huy, chỉ đạo các hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.

Ngoài ra, lực lượng cảnh sát biển cũng hiệp đồng, phối hợp với 5 quân khu ven biển, các bộ, ban, ngành và 28 tỉnh, thành phố ven biển tiến hành rà soát nguồn nhân lực, tàu thuyền và phương tiện dân sự để huy động theo khoản 6 Điều 8, Điều 16 của Luật Cảnh sát biển và Nghị định 30/2010/NĐ-CP, Nghị định 130/2015/NĐ-CP, Thông tư 153/TT-BQP, sẵn sàng tiếp nhận nguồn nhân lực, phương tiện tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tích cực, chủ động tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và sẵn sàng xử lý tình huống quốc phòng, an ninh trên biển (khoản 4 Điều 8). Tăng cường tổ chức luyện tập, diễn tập các phương án tác chiến...

Có thể nói, Luật Cảnh sát biển Việt Nam có hiệu lực và đi vào cuộc sống không chỉ tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ vùng biển, mà còn tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế của Cảnh sát biển Việt Nam góp phần vững chắc công cuộc bảo vệ chủ quyền, an ninh biển đảo.

H. Phong