Cảnh sát biển
Những nhóm nhiệm vụ cụ thể đối với cảnh sát biển được quy định trong Luật Cảnh sát biển (Ảnh: Tuấn Lê)

Xuất phát từ đặc thù vùng biển Việt Nam rộng; Biển Đông hiện nay được đánh giá là vùng biển có tranh chấp phức tạp nhất thế giới, không chỉ liên quan đến lợi ích của các quốc gia ven Biển Đông mà còn liên quan đến lợi ích chính trị của nhiều cường quốc trên thế giới.

Trong khi đó hoạt động quản lý nhà nước trên biển đa ngành, đa lĩnh vực cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành, chính quyền địa phương các cấp với Cảnh sát biển Việt Nam, do đó Cảnh sát biển Việt Nam có vị trí vai trò nòng cốt, trung tâm, có phạm vi hoạt động rộng trên các vùng biển Việt Nam để bảo đảm thực thi pháp luật nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước trên biển.Trong bối cảnh tình hình đó, yêu cầu nhiệm vụ của Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng, nặng nề hơn.

Vì thế, Quốc hội đã thông qua Luật Cảnh sát biển Việt Nam gồm 8 Chương, 41 Điều, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019.

Theo đó, Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018 đã dành cả Chương II để quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Lực lượng Cảnh sát biển. Cụ thể, tại Điều 8 Chương II đã quy định Cảnh sát biển Việt Nam có 7 nhóm nhiệm vụ chính như sau:

1. Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình để đề xuất chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và thực thi pháp luật trên biển; nghiên cứu, phân tích, dự báo, tham mưu với cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, pháp luật về bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh quốc gia trong vùng biển Việt Nam, bảo đảm trật tự, an toàn và đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển.

2. Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, an ninh, lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; bảo vệ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên biển.

3. Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển.

4. Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh trên biển.

 

5. Thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

6. Tiếp nhận, sử dụng nhân lực, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam.

7. Thực hiện hợp tác quốc tế trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và thỏa thuận quốc tế có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam.

So với Pháp lệnh Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008, Luật Cảnh sát biển Việt Nam đã bổ sung 02 nhiệm vụ cho Cảnh sát biển Việt Nam gồm: (1) “Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và xử lý tình huống quốc phòng, an ninh trên biển” và (2) “Tiếp nhận, sử dụng nhân lực, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự được huy động tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam”.

Theo Trung tá CN Phạm Đức Hạnh, Bộ Tham mưu Cảnh sát biển việc bổ sung thêm nhiệm vụ “Tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và xử lý tình huống quốc phòng, an ninh trên biển” cho Cảnh sát biển trong Luật Cảnh sát biển Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý để Cảnh sát biển Việt Nam thực thi pháp luật bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; bảo đảm giải quyết tranh chấp trên biển bằng lực lượng thực thi pháp luật, bằng biện pháp mang tính “dân sự” để giữ vững hòa bình, ổn định vùng biển phù hợp luật pháp quốc tế và thông lệ, xu thế chung của khu vực đồng thời tranh thủ được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế; không để các thế lực thù địch lợi dụng, khiêu khích và đẩy lên thành xung đột vũ trang.

Để xử lý tốt các tình huống quốc phòng - an ninh trên biển, xuất phát từ tính chất vụ việc, trên cơ sở pháp lý và truyền thống của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống với các nước láng giềng cũng như ổn định vùng biển lâu dài, đồng thời để thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của một quốc gia đã tham gia và thừa nhận Công ước Luật Biển năm 1982 và thỏa thuận DOC về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, Cảnh sát biển Việt Nam đã phối hợp với Lực lượng Hải quân (là lực lượng nòng cốt) và các lực lượng khác kiên trì biện pháp pháp luật, tuyên truyền, cảnh báo, yêu cầu các bên liên quan tuân thủ luật pháp quốc tế và các thỏa thuận về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông.

Từ đó đã ngăn chặn được nhiều hành vi vi phạm trên biển, không để tình hình vùng biển trở nên nghiêm trọng hoặc mở rộng hơn. Qua đó vừa góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia bằng các biện pháp pháp luật, hòa bình, vừa góp phần làm giảm căng thẳng, tránh xung đột vũ trang, giữ vững môi trường an ninh, hòa bình, hữu nghị trên các vùng biển để phát triển kinh tế đất nước và khu vực.

Đặc biệt, đối với nhiệm vụ quy định tại Khoản 3, Điều 8: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển”, trong hơn 20 năm xây dựng và trưởng thành, với tinh thần “Kiên quyết dũng cảm, khắc phục khó khăn, đoàn kết hiệp đồng, giữ nghiêm pháp luật”, Cảnh sát biển Việt Nam luôn hoàn thành xuất sắc vai trò nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển’; tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn và tham gia khắc phục sự cố môi trường biển.

H. Phong