Luật cảnh sát biển
Luật Cảnh sát biển Việt Nam gồm 8 Chương, 41 Điều; được Quốc hội khóa 14 thông qua tại Kỳ họp thứ 6, ngày 19/11/2018; có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019 (Ảnh: Trường Phong) 

Sáng 19/6, Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển phối hợp Ban Chỉ huy Quân sự quận Ba Đình tổ chức tuyên truyền về tình hình biển, đảo, Luật Cảnh sát biển Việt Nam và phòng chống tội phạm ma túy cho 75 cán bộ, chiến sĩ khóa huấn luyện quân Dự bị động viên năm 2020 quận Ba Đình tổ chức tại Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển.

Tại buổi tuyên truyền, cán bộ, chiến sĩ quân Dự bị động viên quận Ba Đình được Trung tá Vũ Thái Anh - Chủ nhiệm Khoa Nghiệp vụ Cảnh sát biển giới thiệu về Luật Cảnh sát biển Việt Nam năm 2018.

Luật Cảnh sát biển Việt Nam gồm 8 Chương, 41 Điều; được Quốc hội khóa 14 thông qua tại Kỳ họp thứ 6, ngày 19/11/2018; có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2019.

Luật Cảnh sát biển Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Luật Cảnh sát biển Việt Nam quy định cụ thể, chi tiết về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam; chế độ, chính sách đối với Cảnh sát biển Việt Nam; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; khẳng định Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật và bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển. Đồng thời, khẳng định, Cảnh sát biển Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý nhà nước của Chính phủ và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

 

Theo quy định của Luật, Cảnh sát biển Việt Nam được tổ chức tập trung, thống nhất theo phân cấp từ Bộ Tư lệnh đến đơn vị cấp cơ sở. Hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam phải tuân thủ Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; Kết hợp nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, quản lý an ninh, trật tự, an toàn trên biển với phát triển kinh tế biển; Dựa vào Nhân dân, phát huy sức mạnh của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Nhà nước xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; ưu tiên nguồn lực phát triển Cảnh sát biển Việt Nam. Cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam có trách nhiệm tham gia xây dựng Cảnh sát biển Việt Nam trong sạch, vững mạnh.

Luật cũng đã thể chế hóa đường lối của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam bền vững: “Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng chuyên trách của Nhà nước, làm nòng cốt thực thi pháp luật trên biển” - đây là điểm mới về vị trí của Cảnh sát biển Việt Nam; đồng thời Luật cũng quy định: “Cảnh sát biển Việt Nam có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước về chính sách, pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn trên biển; bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trong vùng biển Việt Nam; quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế theo thẩm quyền”.

Về nhiệm vụ, quyền hạn, Luật quy định 7 nhóm nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam, trong đó bổ sung mới 2 nhiệm vụ, một là tham gia xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh và xử lý tình huống quốc phòng, an ninh trên biển; hai là tiếp nhận, sử dụng nhân lực tàu thuyền và phương tiện, thiết bị kỹ thuật dân sự để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền. Luật cũng quy định 10 quyền hạn của Cảnh sát biển Việt Nam trên cơ sở tập hợp hoá các quy định trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; bổ sung 3 quyền hạn mới cho Cảnh sát biển Việt Nam gồm: Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ; Huy động người, tàu thuyền và phương tiện, thiết bị dân sự của cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam trong trường hợp khẩn cấp; Đề nghị tổ chức, cá nhân người nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam hỗ trợ, giúp đỡ trong trường hợp khẩn cấp.

Về phạm vi hoạt động, Cảnh sát biển Việt Nam có phạm vi hoạt động trong vùng biển Việt Nam (khoản 1 Điều 11). Trong trường hợp vì mục đích nhân đạo, hòa bình, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật, Cảnh sát biển Việt Nam được hoạt động ngoài vùng biển Việt Nam (khoản 2 Điều 11). Cụm từ “ngoài vùng biển Việt Nam” có thể được hiểu bao gồm: các địa bàn liên quan và vùng biển ngoài vùng biển Việt Nam (đất liền, vùng biển quốc tế).

Buổi tuyên truyên nhằm trang bị, củng cố kiến thức và hiểu biết về tình hình biển, đảo, phòng chống ma túy cũng như Luật Cảnh sát biển Việt Nam, đồng thời giúp cán bộ, chiến sĩ quân Dự bị động viên quận Ba Đình hiểu sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Lực lượng Cảnh sát biển. Đây cũng là hoạt động luôn được Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Cảnh sát biển coi trọng, tổ chức thường xuyên, hiệu quả.

H. Phong