bệnh viện,kỹ thuật cao,BV Bãi Cháy
Hơn 1.200 kỹ thuật cao, chuyên sâu tuyến trung ương được thực hiện tại bệnh viện Bãi Cháy 

Năm 2021, đối mặt với các làn sóng tấn công của đại dịch Covid-19, đặc biệt là sự xuất hiện của biến chủng mới Delta có khả năng lây lan diện rộng. Bệnh viện Bãi Cháy đã đồng hành cùng Ngành Y tế Quảng Ninh triển khai linh hoạt các giải pháp phòng chống dịch bệnh theo phương châm “3 trước, 4 tại chỗ”, đảm bảo môi trường khám chữa bệnh an toàn, hoàn thành tốt nhiệm vụ kế hoạch đã đặt ra, góp phần thực hiện mục tiêu kép của tỉnh Quảng Ninh “Vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế xã hội”.

Theo đó, trong năm 2021, kết quả khám chữa bệnh ngoại trú của bệnh viện đạt 317.756 lượt bệnh nhân (đạt 105,3% chỉ tiêu kế hoạch), khám chữa bệnh nội trú đạt trên 40.021 lượt bệnh nhân (đạt 87% chỉ tiêu kế hoạch).

Mặc dù tiếp tục chịu ảnh lớn do đại dịch diễn biến phức tạp, kéo dài, nguồn nhân lực thường xuyên phải tăng cường công tác hỗ trợ phòng chống dịch, tuy nhiên trong năm qua Bệnh viện Bãi Cháy vẫn khẳng định sự “bứt phá” mạnh mẽ trong công tác khám chữa bệnh, cấp cứu với nhiều kỹ thuật cao, hiện đại mang tính “đột phá, chuyên sâu” được triển khai trên các lĩnh vực ngoại khoa, thần kinh – sọ não – cột sống, ung bướu...

Đội ngũ 910 nhân lực của Bệnh viện đang làm chủ và triển khai 14.483 kỹ thuật theo phân tuyến, trong đó có 1233 kỹ thuật cao, chuyên sâu tuyến trung ương theo phê duyệt của Bộ Y tế.

Nhiều phương pháp điều trị can thiệp ít xâm lấn hiện đại đem lại hiệu quả cao như phẫu thuật thần kinh sọ não cột sống ít xâm lấn, phẫu thuật nội soi, tán sỏi thận ống mềm, kỹ thuật đốt u gan, u tuyến giáp bằng vi sóng, can thiệp nút mạch khối u, ung thư, xạ hình thận, xạ hình xương, xạ hình tuyến giáp, xạ trị điều biến liều…

Trong đó không thể không nhắc đến kỹ thuật tán sỏi đường mật qua da. Theo thống kê, 10-15% dân số cả nước mắc bệnh sỏi mật, sỏi ống mật chủ, sỏi đường mật trong gan… Sỏi đường mật có thể làm nghẽn dịch mật gây đầy trướng, chậm tiêu, đau bụng…

 

Nếu không điều trị kịp thời, dứt điểm, trường hợp nặng có thể gây nên những biến chứng nguy hiểm như viêm đường mật, viêm tụy cấp, viêm gan, áp xe gan, ung thư đường mật, túi mật.

Trước đây, mổ mở lấy sỏi đường mật trong và ngoài gan được coi là biện pháp “kinh điển” trong điều trị các bệnh lý sỏi mật. Bệnh nhân phải trải qua cuộc đại phẫu nặng nề với nhiều biến chứng gây mê, chảy máu, nhiễm trùng vết mổ…thời gian hồi phục chậm, tỉ lệ sót sỏi rất cao, trên 90%.

Với sự phát triển của các phương pháp can thiệp xâm lấn tối thiểu trên thế giới, kĩ thuật tán sỏi đường mật qua da hiện đại đang áp dụng tại một số  Bệnh viện Bãi Cháy được đánh giá là phương pháp điều trị can thiệp ít xâm lấn tiên tiến, hiệu quả ưu việt nhất, tính an toàn, tỷ lệ sạch sỏi cao.

Phương pháp này đặc biệt thích hợp với các bệnh nhân già yếu, có bệnh lý toàn thân phối hợp hoặc bệnh nhân đã có tiền sử phẫu thuật đường mật nhiều lần (gây dính, khó khăn khi mổ lại)… Bệnh nhân không phải trải qua đại phẫu nên ít đau đớn, tránh được nguy cơ biến chứng thường gặp như chảy máu, nhiễm trùng…, phục hồi sức khỏe nhanh chóng, có thể đi lại sau 24h can thiệp và xuất viện sau 3 – 5 ngày theo dõi. Qua đó rút ngắn thời gian nằm viện, tiết kiệm chi phí điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống.

Để thực hiện được những kỹ thuật cao này trong công tác khám, chữa bệnh thường quy, BGĐ Bệnh viện trong nhiều năm qua đã đẩy mạnh phong trào nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ mới, hiện đại vào thực tế khám chữa bệnh.

Theo đó, trong năm 2021, Bệnh viện Bãi Cháy nghiệm thu 96 sáng kiến, nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp sở. Cùng với đó có nhiều nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh và cấp cơ sở tỉnh được đánh giá cao về giá trị ứng dụng thực tiễn như Đề tài cấp tỉnh “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tán sỏi đường mật qua da trong điều trị sỏi đường mật trong và ngoài gan” tại bệnh viện Bãi Cháy”, đề tài cấp cơ sở tỉnh “Ứng dụng kỹ thuật xạ trị điều biến liều IMRT trong điều trị ung thư đầu cổ”.

Theo lãnh đạo Bệnh viện, mục tiêu nhiệm vụ trong năm 2022, bệnh viện đẩy mạnh đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật và đào tạo đội ngũ y bác sĩ nhằm thực hiện được thêm các kỹ thuật khó tại bệnh viện. Việc này nhằm phục vụ người bệnh tốt hơn, giúp người bệnh tiết kiệm chi phí.

N. Huyền