Bắc Kạn có gần 314.000 người, trong đó dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm trên 88%, gồm 7 dân tộc chính: Tày, Nùng, Dao, Mông, Kinh, Hoa và Sán Chay. Toàn tỉnh có 108 xã, phường, thị trấn thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, trong đó có 66 xã khu vực III, 08 xã khu vực II, 34 xã khu vực I và 79 thôn đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ đồng bào DTTS của tỉnh được tiếp cận và hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức thấp hơn so với bình quân chung của cả nước. Toàn tỉnh còn 2,58% dân số chưa có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT); trên 39% số hộ chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh; gần 30% hộ có nhà ở thiếu kiên cố hoặc đơn sơ; trên 79% lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật…

Theo UBND tỉnh, nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các thành phần dân tộc, giữa vùng dân tộc với các vùng khác trong tỉnh thì bên cạnh các nguồn lực trong nước, việc tăng cường vận động, thu hút các nguồn vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm của các tổ chức quốc tế để đấu tư phát triển vùng DTTS cũng rất quan trọng. Chính vì vậy, mới đây, UBND tỉnh Bắc Kạn đã có kế hoạch tăng cường hợp tác quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS đến năm 2025. Theo đó, việc vận động thu hút đầu tư quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi dựa vào tiềm năng và lợi thế từng địa phương, dân tộc, trên nguyên tắc bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Đồng thời tăng cường tính chủ động của các ngành, địa phương trong việc thu hút các nguồn lực phù hợp, góp phần thúc đấy phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS trên địa bàn tỉnh.

Cũng theo kế hoạch này, nhiều lĩnh vực ưu tiên thu hút nguồn lực và vận động viện trợ được đề cập. Cụ thể là việc thu hút, vận động có hiệu quả các nguồn lực tài chính để hỗ trợ đồng bào DTTS nghèo chưa có đất ở để ổn định cuộc sống và hộ DTTS nghèo vùng đồng bào DTTS và miền núi chưa có nhà ở hoặc có nhà tạm, dột nát được hỗ trợ để làm nhà ở, công trình cấp nước sinh hoạt; hỗ trợ hộ gia đình tái định cư hoặc ổn định tại chỗ; hỗ trợ bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ; hỗ trợ đầu tư vùng trồng dược liệu quý; hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho hộ nghèo và xây dựng các mô hình khởi nghiệp.

Dân tộc
Nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, người dân đã tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng thu nhập. 
 

Bên cạnh đó là việc hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ sản xuất, đời sống; đầu tư phát triển giáo dục đào tạo vùng DTTS; hỗ trợ lao động là người DTTS tiếp cận thuận lợi với thông tin thị trường lao động, tìm kiếm việc làm phù hợp; hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao thể trạng, tầm vóc người DTTS; hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, cải tạo cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị thiết yếu cho trạm y tế xã; hỗ trợ tuyên truyền, vận động nâng cao kiến thức mọi mặt thay đổi “nếp nghĩ, cách làm” trong đồng bào DTTS; đầu tư tạo sinh kế, phát triển kinh tế nhóm dân tộc ít người, nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn nhằm xoá đói giảm nghèo góp phần nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, hỗ trợ cải thiện chất lượng dân số, thực hiện bình đẳng giới…

Ngoài ra, kế hoạch cũng đề cập đến việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của các DTTS gắn với du lịch như bảo tồn lễ hội truyền thống tại các địa phương khai thác, xây dựng sản phẩm phục vụ phát triển du lịch; hỗ trợ chương trình nghiên cứu, phục dựng, bảo tồn, phát triển văn hoá phi vật thể các DTTS có nguy cơ mai một; hỗ trợ các chương trình tuyên truyền, quảng bá rộng rãi giá vị văn hoá truyền thống tiêu biểu của các DTTS…

Để thu hút tối đa các tiềm năng nguồn lực quốc tế, đặc biệt là vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài, viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài dành cho Việt Nam để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS tại địa phương, Bắc Kạn sẽ tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, vận động và sử dụng nguồn vốn viện trợ có hiệu quả; tăng cường công tác vận động, đổi mới và đa dạng phương thức vận động; chuyển đổi phương thức vận động chung sang vận động theo từng dự án cụ thể; tăng cường công tác giám sát, đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn nước ngoài...

Kế hoạch tăng cường hợp tác quốc tế hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội vùng DTTS đến năm 2025 cùng với hàng loạt các chính sách hỗ trợ vùng đồng bào DTTS đóng một vai trò vô cùng lớn, không chỉ giúp nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, thu hẹp khoảng cách về mức sống, thu nhập giữa các vùng, mà còn tạo nên sức bật cho vùng đồng bào DTTS sớm tiếp cận với trình độ phát triển chung trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Ngọc Yến