Bộ Văn hóa - Thể thao & Du lịch vừa có Văn bản số 2737 gửi UBND các tỉnh, thành phố Sơn La, Hà Nội, Lào Cai, Lai Châu, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Đắk Lắk và Đắk Nông về việc quyết định tạm dừng tổ chức Liên hoan nghệ thuật hát Then, đàn Tính các dân tộc Tày - Nùng – Thái toàn quốc lần thứ VII.

Trước đó, ngày 30/7, UBND tỉnh Sơn La (đơn vị đăng cai) đã gửi công văn đề nghị Bộ VHTTDL xem xét dừng sự kiện và đề xuất chuyển tổ chức sang năm 2022. 

Liên hoan nghệ thuật hát Then - đàn Tính các dân tộc Tày - Nùng - Thái toàn quốc đã tổ chức được 3 kỳ, lần gần nhất sự kiện diễn ra tại Hà Giang năm 2018. Đây là dịp tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam; đồng thời nâng cao nhận thức, ý thức trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống hát then, đàn tính của các dân tộc Tày-Nùng-Thái, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Đây cũng là dịp giới thiệu, quảng bá những giá trị di sản văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc đến bạn bè trong nước và quốc tế, qua đó góp phần phát huy những giá trị văn hóa mới trong thời kỳ phát triển đất nước, mở rộng hội nhập quốc tế, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo sức hút để thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch tại các địa phương.

Dân tộc
Liên hoan nghệ thuật hát Then - đàn Tính các dân tộc Tày - Nùng - Thái toàn quốc lần gần nhất diễn ra tại Hà Giang năm 2018. 

Hát then của các dân tộc Tày - Nùng - Thái thường được sử dụng trong các nghi lễ cầu mùa, cầu yên, cấp sắc... Ngôn ngữ của lời then thường mộc mạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường, sử dụng ngôn từ tượng hình, tượng thanh phong phú, lối so sánh, ví von. Ngoài những lời hát tiếng dân tộc, trong liên hoan nhiều đoàn nghệ nhân, diễn viên đã thể hiện các lời hát then tiếng Việt. Nội dung các khúc hát then chứa đựng tình yêu thiên nhiên, mong muốn nhân an vật thịnh, cầu cho mưa thuận gió hòa, con người mạnh khỏe, mùa màng tươi tốt, giai điệu mượt mà, sâu lắng, âm hưởng mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác gần gũi, thiêng liêng, sức truyền cảm mạnh.

 

Hát Then là một di sản văn hóa – nghệ thuật truyền thống độc đáo của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Lạng Sơn… Then được lưu giữ, phát triển thành một không gian văn hóa hát Then, đàn Tính hết sức đồ sộ về khối lượng, phong phú về thể loại, đa dạng về hình thức biểu diễn.

Trải qua nhiều năm, một số đồng bào người dân tộc ở phía Bắc đã di cư đến phía Nam sinh sống và mang theo loại hình này. Vì vậy, hiện nay ở một số tỉnh phía nam như: Đắk Lắk, Đắk Nông... cũng thấy xuất hiện nghệ thuật hát Then.

Vốn không chỉ đơn thuần là một loại hình nghệ thuật diễn xướng, hát Then còn là một hình thức tín ngưỡng lâu đời của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái. Then gắn liền với cuộc sống của người dân, vì thế dù buồn, dù vui...người ta cũng hát Then để giãi bày tâm sự với trời, đấng bề trên. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, trong cơ chế thị trường, cũng như nhiều loại hình văn hóa phi vật thể khác, hát Then đang đứng trước nguy cơ mai một. Nguyên nhân chính là bởi lớp nghệ nhân nắm giữ kho tàng Then cổ ngày càng già yếu mà không truyền lại được cho thế hệ sau. Trong cơ chế thị trường, không gian diễn xướng cho loại hình nghệ thuật này cũng đang bị co hẹp. Lớp trẻ thì không mặn mà với nghệ thuật truyền thống của cha ông, nhiều thanh niên dân tộc hiện nay còn không biết tiếng mẹ đẻ, vì vậy việc bảo tồn “đặc sản” này đã khó mà việc phát triển nó lại càng khó hơn.

Những năm qua, các địa phương có loại hình nghệ thuật này đã có những việc làm cụ thể để bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát Then, đàn Tính như: mở lớp truyền dạy cho các học viên, tuyên truyền quảng bá và xây dựng các đề án bảo tồn... Thế nhưng, thực tế kết quả thu được vẫn rất hạn chế.

Để việc bảo tồn và phát triển hát Then đạt hiệu quả, các chuyên gia là những giáo sư nghiên cứu về văn hóa dân tộc cho rằng, vấn đề tiên quyết là phải cần có chính sách đãi ngộ nghệ nhân hát Then hợp lý, không chỉ mang tính chất khuyến khích mà còn phải xem đó như là yếu tố chính để “hút” giới trẻ tham gia vào việc lưu giữ, bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này.

Ngọc Yến