Việt Nam là vùng đất có bề dày lịch sử và nền văn hóa đa dạng. Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhắc đến di sản văn hóa Việt Nam không thể không kể đến tên như Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố cổ Hội an, Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Nhã nhạc - Âm nhạc Cung đình Việt Nam, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh…

Cùng với thời gian và những thăng trầm của lịch sử đất nước, công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa đã để lại nhiều dấu ấn và thành quả của mình. Đã có nhiều giải pháp được đề ra như tuyên truyền, giới thiệu quảng bá, nghiên cứu, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa đến đông đảo người dân. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ ngày nay, việc áp dụng đồng thời các giải pháp kỹ thuật cổ truyền và khoa học công nghệ hiện đại để giữ được yếu tố gốc, giữ được cơ sở dữ liệu quan trọng của quá khứ nhằm bảo tồn và khai thác giá trị di sản một cách căn cơ, có trách nhiệm vì sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội.

Dân tộc
Văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Ảnh: Thảo Thu
 

Trước thực trạng đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch  trong chặng đường kế tiếp là thực hiện chuyển đổi số. Phát biểu tại Hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu, triển khai kế hoạch công tác 6 tháng cuối năm 2021 được tổ chức mới đây, lãnh đạo Bộ Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch  cho biết đẩy nhanh tiến độ để hoàn thiện 3 đề án: Số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030; Xây dựng bản đồ số, quản lý, liên kết dữ liệu di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030; Kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Đề án Kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam giai đoạn 2021-2030 sẽ tiếp tục huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng tham gia gìn giữ, bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và ý thức bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa của toàn xã hội, các chủ thể văn hóa và tổ chức, cá nhân có liên quan. Có các giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam để bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam một cách lâu dài, bền vững; giới thiệu, quảng bá di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam; thu hút sự quan tâm, trải nghiệm của công chúng, nhất là các đối tượng học sinh, sinh viên.

Theo thời gian, tất cả các di sản đều có thể bị hư hại hoặc bị phá hủy bởi các nguyên nhân đa dạng từ tự nhiên hoặc con người như: Ô nhiễm, lũ lụt, ô xy hóa, các hành động phá hoại hoặc chăm sóc không đúng cách... Vì vậy, Đề án Số hóa di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và Xây dựng bản đồ số, quản lý, liên kết dữ liệu di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phục dựng di sản văn hóa vật thể, lưu giữ giá trị văn hóa phi vật thể.

Việc số hóa di sản có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ, bảo tồn, trùng tu, nghiên cứu và phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể bởi công nghệ số sẽ thực sự là “cây cầu” kết nối các thế hệ trong việc bảo tồn lưu giữ di sản của cha ông.

Thảo Thu