giảm nghèo bền vững
Địa hình phức tạp, đời sống khó khăn đã cản trở học sinh miền núi tới trường.

Trong những năm qua các chính sách hỗ trợ học sinh miền núi được duy trì ổn định góp phần không nhỏ vào công tác giảm nghèo bền vững tại các địa phương. Việc chuyển các chính sách hỗ trợ đặc thù sang các chính sách hỗ trợ thường xuyên đã góp phần tích cực trong việc huy động trẻ em, học sinh đến trường, giảm tỉ lệ học sinh bỏ học tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung đối tượng, bổ sung các chính sách hỗ trợ giáo dục trong thời gian qua đã có tác động tích cực đến nhiều mặt, phát triển cơ sở giáo dục, kiên cố hóa trường lớp, bảo tồn tiếng, chữ dân tộc thiểu số.

Chính sách đối với trẻ em, học sinh dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm: chính sách học bổng; hỗ trợ học tập; miễn, giảm học phí; chính sách nội trú đối với học sinh, sinh viên học cao đẳng, trung cấp; hỗ trợ đối với học sinh các dân tộc thiểu số rất ít người.

giảm nghèo bền vững
Các chính sách hỗ trợ học sinh dân tộc thiểu số đã phát huy hiệu quả.
 

Hằng năm, tổng kinh phí thực hiện chính sách đối với trẻ em, học sinh vùng dân tộc thiểu số và miền núi ước khoảng 9.219 tỷ đồng; trong đó, chính sách đào tạo đối với người dân tộc thiểu số gồm: chế độ cử tuyển, tuyển thẳng vào đại học, dự bị đại học, cộng điểm ưu tiên trong tuyển sinh, ưu tiên trong tổ chức đào tạo,  các chính sách hỗ trợ khác (học bổng; hỗ trợ chi phí học tập; miễn, giảm học phí, trợ cấp xã hội).

Hàng năm, kinh phí thực hiện chính sách đối với sinh viên dân tộc thiểu số ước khoảng 1.486 tỷ đồng; chính sách tín dụng hỗ trợ 16.443 học sinh sinh viên vay vốn với số dư nợ trên 11.000 tỷ đồng để phục vụ học tập.

Hàng năm, có hơn 540.000 học sinh đã nhận được gạo hỗ trợ theo quy định tại Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ .

Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi ở địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi được nâng cao, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99,35%; cấp trung học cơ sở là 92,27%; cấp trung học phổ thông là 63,03%. Tỷ lệ học sinh 15-18 tuổi có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở là 89,46%.

N. Huyền