Nậm Ty là một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang. Hơn 90% dân số chủ yếu sống bằng sản xuất nông nghiệp. Suốt một thời gian dài, hầu hết người dân còn thụ động, chưa biết cách vận dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; không ít người vẫn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, thiếu ý chí vượt khó vươn lên.

giảm nghèo
Ảnh minh họa

“Các sản phẩm nông nghiệp của xã còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa trở thành hàng hóa. Phương thức sản xuất chủ yếu là tự cung, tự cấp và phần lớn dựa vào điều kiện tự nhiên. Công tác vận động, tuyên truyền chuyển đổi phương thức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, bất cập”, đại diện UBND xã Nậm Ty cho biết.

Để khắc phục thực trạng nêu trên, những năm gần đây, cấp ủy, chính quyền xã đã tập trung, lãnh đạo, chỉ đạo, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để thực hiện hiệu quả các chương trình đầu tư trên địa bàn. Đồng thời thường xuyên vận động nhân dân tham gia sản xuất, phát triển các mô hình chăn nuôi, trồng trọt để cải thiện đời sống, phát triển kinh tế hộ gia đình.

“Chúng tôi đã tham mưu với cấp trên hỗ trợ các công cụ sản xuất, cây giống, con giống vật nuôi đến với hộ nghèo, hộ gia đình khó khăn để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống. Nhiều mô hình phát triển kinh tế - xã hội được triển khai theo hướng hàng hóa, như: 1 mô hình chăn nuôi gia trại với trên 26 con bò; 3 mô hình nuôi dê gồm hơn 40 con; 1 mô hình trồng cây dược liệu trên diện tích 6 ha, thu hút sự tham gia của 15 hộ gia đình; 3 mô hình chăn nuôi trâu từ 10 - 15 con; 1 mô hình nuôi cá tầm trên 10.000 con/2 vụ/năm; mô hình trồng thảo quả tổng diện tích trên 287ha; mô hình nuôi cá chép ruộng thu hoạch từ 10 - 12 tấn/năm”, đại diện UBND xã Nậm Ty chia sẻ.

Hiệu quả của các mô hình này đã góp phần tạo nên chuyển biến đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo ở Nậm Ty. 5 năm qua, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã đã giảm dần, từ 46% năm 2015 đến 6,8 % năm 2019, bình quân mỗi năm giảm 7,84 %/năm.

 

Tương tự Nậm Ty, nhiều xã vùng cao khác ở Hà Giang cũng xác định công tác giảm nghèo bền vững luôn là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, và đã nỗ lực cải thiện khả năng tiếp cận của người nghèo đối với các dịch vụ sản xuất, dịch vụ xã hội cơ bản; thường xuyên vận động người dân mạnh dạn phát triển kinh tế, chuyển đổi các loại cây trồng mới, áp dụng khoa học kỹ thuật mới và con giống mới vào sản xuất

Quan điểm chung của các xã vùng cao ở Hà Giang là cho người nghèo “cần câu” chứ không cho “con cá”, để họ tự chủ vươn lên thoát nghèo thì mới bền vững được.

Tuy nhiên, theo UBND tỉnh Hà Giang, việc xây dựng và phát triển các mô hình trồng trọt, chăn nuôi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tại các xã vùng cao vẫn còn không ít khó khăn trước mắt.

Chẳng hạn như, kinh phí đầu tư, hỗ trợ sản xuất chiếm tỷ trọng thấp trong chương trình giảm nghèo bền vững; Việc giao vốn, cấp phát giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ sản xuất nhiều khi chậm so với thời điểm mùa vụ, một số chưa phù hợp với địa bàn dẫn đến hiệu quả đạt thấp; Nhận thức, trình độ dân trí ở vùng cao không đồng đều, nhiều nơi còn thiếu đất, thiếu nước sản xuất…

Lãnh đạo tỉnh Hà Giang mong muốn Trung ương tiếp tục nghiên cứu chính sách có tính đặc thù đối với các địa phương nghèo khu vực vùng cao biên giới; có chính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp, dược liệu, du lịch, dịch vụ có khả năng tạo việc làm tại chỗ, giúp các địa phương này chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn…

Ngọc Mai