Theo báo cáo tổng kết 9 năm thực tiễn thi hành Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 của UBND tỉnh Nghệ An, công tác hợp tác quốc tế trong đấu tranh với tội phạm mua bán người mặc dù đã được cải thiện nhưng chưa đạt hiệu quả như mong muốn do nhiều nguyên nhân như thủ tục về thủ tục pháp lý, rào cản ngoại giao, hệ thống pháp luât.

Hành vi mua, bán người chủ yếu diễn ra qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc, công tác phối hợp điều tra, xử lý chủ yếu thực hiện theo Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1998. Tuy nhiên, quá trình thực hiện còn nhiều khó khăn, bất cập chưa dược sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình hiện nay…

mua bán người,phòng chống mua bán người,Nghệ An
Công tác phòng, chống mua bán người ở vùng biên giới xứ Nghệ gặp rất nhiều khó khăn. (Ảnh minh họa)

Đối với các vụ việc dụ dỗ phụ nữ mang thai sang Trung Quốc bán con, bản chất của hành vi này là “Mua bán trẻ em” nhưng do không giải cứu được nạn nhân (cháu bé) và không có tài liệu, căn cứ nào xác định được mẹ nạn nhân đi Trung Quốc, do đó việc điều tra, xử lý gặp rất nhiều khó khăn.

Công an tỉnh Nghệ An cũng đã phát hiện được một số vụ việc khi các đối tượng này đang trên đường đưa phụ nữ mang thai đi Trung Quốc để sinh rồi bán cho người Trung Quốc, nhưng giai đoạn này mẹ nạn nhân chưa sinh con, do đó nếu truy tố về tội “Mua bán người” hoặc “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo các điều 150, 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không phù hợp và cũng chưa có văn bản nào hướng dẫn việc truy tố về hành vi này. Trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay thì thai nhi chưa được xem là một con người (ngay trong Bộ luật Hình sự năm 2015, tại điểm a, điểm c, khoản 1, Điều 123 quy định 2 tình tiết phân biệt “giết 02 người trở lên” và “giết phụ nữ mà biết là có thai”, như vậy có thể hiểu bào thai không phải là người thứ hai.

 

Tình hình tội phạm mua bán người còn nhiều tiềm ẩn phức tạp, số lượng nạn nhân bị mua bán tương đối nhiều nhưng số được hỗ trợ còn hạn chế, đa số chỉ mới dùng lại ở việc hỗ trợ tiếp nhận, hỗ trợ tiền tàu xe về gia đình, các nhu cầu thiết yếu ban đầu (do lực lượng tiếp nhận, giiar cứu hoặc tổ chức phối hợp hỗ trợ, không phải từ ngân sách của Chương trình phòng, chống mua bán người). Hầu hết các nạn nhân chưa tiếp cận được các dịch vụ hỗ trợ: pháp lý, chuyển tuyến, vay vốn, học nghề, tạo việc làm…

Bên cạnh đó, do chưa có cơ chế phối hợp liên ngành giữa các ngành chức năng gồm Công an, Bộ đội Biên phòng, Lao động – Thương binh và Xã hội nên việc phối hợp nắm bắt thông tin về các nạn nhân bị mua bán trở về còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc hỗ trợ các dịch vụ cho nạn nhân gặp nhiều khó khăn, nạn nhân chưa được chuyển tuyến và kết nối với các dịch vụ kịp thời.

Công tác tuyên truyền giáo dục tại cộng đồng cũng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tuyên truyền cho người dân ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, miền núi khó khăn gặp trở ngại cả về điều kiện đi lại, phương pháp tuyên truyền và nhận thức của họ.

Một yếu tố nữa là nguồn kinh phí để triển khai hoạt động liên quan công tác phòng, chống mua bán người còn tương đối thấp, không dáp ứng được yêu càu thực tiễn.

PV