Về vấn đề này, luật sư Nguyễn Thị Phương Anh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) chia sẻ với PV Infonet: “Nếu một người biệt tích 2 năm trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng người này vẫn không có thông tin xác thực nào về việc còn sống hay đã chết thì Tòa án có thể tuyên bố người này đã mất tích.

mất tích,luật sư,hôn nhân,ly hôn
Luật sư Nguyễn Thị Phương Anh, Đoàn Luật sư TP Hà Nội

Thời hạn 2 năm sẽ được tính từ thời điểm có tin tức cuối cùng về người đó hoặc nếu không xác định được ngày cuối cùng có tin tức thì thời hạn sẽ được tính vào tháng có tin tức cuối cùng".

Cũng theo nữ luật sư, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến người được Tòa án tuyên bố mất tích quy định tại Điều 387 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Hồ sơ để yêu cầu tuyên bố một người mất tích sẽ bao gồm: Đơn yêu cầu nộp cho Tòa án, các tài liệu chứng minh, người đứng tên yêu cầu có quyền yêu cầu và các tài liệu về chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu của những đương sự, chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 2 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực người đó còn sống hay đã chết, chứng minh cho việc đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm hoặc quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm vắng mặt nơi cư trú.

Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích phải có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 của Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự. Ví dụ như các thông tin về ngày, tháng, tên của Tòa án có thẩm quyền giải quyết; tên, địa chỉ của người yêu cầu...

Trình tự, thủ tục đề nghị, tuyên bố một người mất tích gồm 4 bước.

Thứ nhất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích.

Thứ hai, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố mất tích, Tòa án sẽ quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

Thứ ba, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày công bố thông báo, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu tuyên bố một người đã mất tích.

 

Bước cuối cùng, nếu tòa án chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ ra quyết định tuyên bố người đó đã mất tích. Thủ tục này sẽ tuân thủ theo quy định của Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự.

“Trong trường hợp này thì việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích sẽ được tuân thủ theo quy định của Điều 69 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Tòa án sẽ giao tài sản của người vắng mặt nơi cư trú cho những người sau đây được quản lý.

Thứ nhất, đối với tài sản đã được ủy quyền thì người ủy quyền tiếp tục quản lý. Đối với tài sản chung thì chủ sở hữu còn lại sẽ quản lý. Đối với tài sản của vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý.

Nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi bị hạn chế, năng lực, hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha mẹ của người vắng mặt sẽ quản lý", luật sư Phương Anh cho biết.

Nếu vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích muốn kết hôn với người khác thì có được không? Luật sư Phương Anh cho hay: "Trước hết, người có vợ hoặc chồng được Tòa án tuyên bố mất tích phải làm thủ tục xin ly hôn, gửi đơn xin ly hôn tới tòa án để giải quyết, căn cứ theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau khi được tòa án giải quyết, cho phép ly hôn thì người đó có thể kết hôn với người khác".

Luật sư lưu ý thêm: "Trong trường hợp một người đã bị tuyên bố mất tích trở về thì quyết định tuyên bố họ mất tích không đương nhiên chấm dứt hiệu lực. Họ cần phải làm thủ tục hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích.

Cụ thể là khi một người tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực rằng người đó còn sống theo yêu cầu của chính người đó hoặc những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì Tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích đối với người đó.

Người tuyên bố mất tích trở về sẽ được nhận lại tài sản quản lý hoặc chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí về quản lý. Quyền về nhân thân cũng sẽ được khôi phục sau khi tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích".

Tiến Dũng