Riêng ngày 10/11, các tỉnh thành ghi nhận số ca tăng cao như TP. Hồ Chí Minh (1.414), Đồng Nai (848), Bình Dương (627), An Giang (450), Tây Ninh (435), Tiền Giang (396), Kiên Giang (327), Sóc Trăng (298), Bình Thuận (287), Đồng Tháp (274), Bạc Liêu (234), Bà Rịa - Vũng Tàu (191), Đắk Lắk (181), Cà Mau (180), Vĩnh Long (157), Cần Thơ (139), Long An (132), Bình Phước (131)…

Theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, Trưởng khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược TP.HCM, dịch lan rộng với số ca mắc gia tăng chúng ta hoàn toàn dự báo được trước bởi vì việc người dân đi lại, về quê .... bắt đầu từ cuối tháng 9  đã tạo nguy cơ lây nhiễm cao, trong khi đó tỷ lệ bao phủ vắc xin ở các tỉnh này còn rất thấp...

Bằng chứng là những ngày qua, số ca nhiễm tại khu vực miền Tây liên tục được ghi nhận tăng cao. Một số tỉnh như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, các tỉnh ở miền Bắc cũng không ngoại lệ... dịch đã có dấu hiệu bùng lên, giống như TP.HCM thời điểm bắt đầu làn sóng dịch thứ tư. Dù số dân ở các tỉnh không đông như TP.HCM nên cấp độ dịch có thể nhẹ hơn, nhưng vẫn là mối lo ngại lớn.

Tuy nhiên, PGS Dũng cho rằng, chúng ta không nên hoang mang, chúng ta đã chấp nhận “thích ứng với dịch bệnh”. Thực chất giống như Pháp có tỷ lệ tiêm vắc xin cao nhưng số ca mắc vẫn rất nhiều hay như gần Việt Nam nhất là Sigapore, họ đã tiêm đủ vắc xin nhưng mỗi ngày vẫn ghi nhận 5.000 ca nhiễm trong khi đó dân số chỉ có 5 – 6 triệu người.

Dịch bùng phát, PGS Dũng cho rằng, nếu người dân không tuân thủ phòng dịch (không nên tới những chỗ đông người, đi làm không phòng chống dịch cá nhân) thì nguy cơ loang rộng rất lớn. Hiện TP.HCM đã bước qua thời kỳ nguy hiểm của dịch bệnh, nhiều tỉnh thành giãn cách thời gian dài ảnh hưởng tới sinh kế của người dân.

Nếu người dân không cố gắng phòng bệnh cá nhân tốt thì rất khó có thể kiểm soát được dịch bệnh, nguy cơ phải đóng cửa, giãn cách vẫn có thể xảy ra.

Theo PGS Dũng, từ kinh nghiệm chống dịch ở TP.HCM cũng như các nước trên thế giới, hiện nay các giải pháp để hạn chế số ca lây nhiễm:

Thứ nhất, can thiệp không dùng thuốc đó là các can thiệp như hạn chế đi lại, phong toả nhỏ, đóng cửa nơi đông người, không cho tụ tập tại gia đình, đóng cửa trường học và nơi làm việc… Đây là các biện pháp chống dịch cổ điển nhưng có tác dụng nhanh, số ca mắc ghi nhận có thể giảm sau 10 ngày.

 
covid,bệnh nhân,dịch bệnh,Covid-19
Ảnh minh hoạ.

Thứ hai, tạo điều kiện để phát hiện sớm người mắc bệnh. Xét nghiệm nhưng nên làm xét nghiệm người có triệu chứng, có nhu cầu để phát hiện sớm ca nhiễm chứ không phải đi xét nghiệm toàn dân tìm F0.

Thứ ba, điều trị theo dõi tại nhà kịp thời bởi vì bệnh nhân Covid-19 khi bị bệnh có triệu chứng không được chăm sóc người bệnh sẽ lo lắng tự đi đến các cơ sở y tế điều trị thì làm tăng nguy cơ lây lan dịch. Nếu theo dõi chăm sóc tại nhà tốt thì sẽ giảm nguy cơ lây lan.

PGS Dũng cho biết, việc theo dõi điều trị tại nhà có thể triển khai sử dụng thuốc Molnupiravir. Thuốc này đã được các nước sử dụng và đã được chứng minh không chỉ làm giảm nhẹ triệu chứng ở người bệnh mà làm giảm tải lượng virus của F0. Nếu tải lượng virus giảm thì nguy cơ phát tán virus ra môi trường giảm, giảm khả năng lây lan cho những người xung quanh.

Thứ tư, tiêm vắc xin nhiều hơn. Vắc xin cũng là biện pháp cấp bách nhưng PGS Dũng cho rằng vắc xin không phải là biện pháp nhanh chóng vì tiêm xong phải 15 ngày sau mới có kháng thể.

Ngoài ra, khi tiêm vắc xin xong thì dịch cũng không thể hết ngay mà cần kiểm soát người mắc bệnh, cách ly họ tại nhà và hạn chế đi lại, đóng cửa nơi đông người.

Thực tế, nhiều nước khi đóng cửa siêu thị, đóng cửa các khu vực đông người thì chỉ 5 - 7 ngày số ca đã giảm nhưng số tiêm vắc xin cần 2 – 3 tuần để sinh kháng thể và đặc biệt hiệu quả nhiều khi đã tiêm đủ 2 mũi.

Vì vậy, một số địa phương bao phủ vắc xin chậm (còn ít) có thể tính tới các biện pháp hạn chế đông người ngay.

Khánh Chi